Wednesday, August 30, 2006

Vie^.t Ta^n ca'ch ma.ng to^? chu+'c Le^~ Tu+o+?ng Nie^.m ta.i Denver 27/08/2006


Le^~ Tu+o+?ng Nie^.m ta.i Denver

Nga`y 27/8/2006 lu'c 3:00 PM , buo^?i tu+o+ng nie^.m Pho' D-e^` D-o^'c Hoa`ng Co+ Minh va` ca'c chie^'n hu+u~ tie^n phong d-a~ d-u+o+.c to^? chu+'c ta.i Denver .

D-a'p lo+`i mo+`i trong so^' Quan Kha'ch tham du+. co' HQ Trung Ta' Le^ Xua^n Thu, Ho^.i Tru+o+?ng Ho^.i Ha?i Qua^n Colorado va` ca'c tha`nh vie^n trong Ban Cha^'p Ha`nh Ho^.i, O^ng D-oa`n Du~ng, Chu? Nhie^.m Ba'o Vie^.t Business, O^ng Nguye^~n va.n Tha('ng, Ba'o Y' Da^n va` mo^.t so^' tha^n hu+~u cu`ng gia d-i`nh.

Nghi thu+'c tu+o+?ng nie^.m go^`m : Le^~ cha`o quo^'c ky` , tuye^n bo^' ly' do, Le^~ da^ng hu+o+ng va` d-o.c ba`i tu+o+?ng nie^.m ,d-o.c tie^?u su+? va` lo+`i pha't bie^?u ca?m tu+o+?ng cu?a o^ng Le^ Xua^n Thu , sau cu`ng la` pha^`n da^ng hu+o+ng cu?a ca'c quan kha'ch va` tha^n hu+~u tham du+.

Buo^?i Tu+o+?ng Nie^m die^~n ra trong ba^`u kho^ng khi' ra^'t trang nghie^m va` tha^n ma^.t .

TBH

Đường chúng ta đi chỉ có hai cái đích. Cả hai cái đích đều vô cùng vinh quang và ý nghĩa.




Đường chúng ta đi chỉ có hai cái đích. Cả hai cái đích đều vô cùng vinh quang và ý nghĩa. Một là giải phóng Tổ Quốc Việt Nam. Hai là được anh dũng hy sinh cho đại cuộc giải phóng Tổ Quốc Việt Nam

Vì tương lai của dân tộc, vì tương lai của đất nước, vì tương lai của con em chúng ta, vì tương lai của chính chúng ta, vì tương lai của toàn thể Việt Nam yêu dấu, chúng ta hãy can đảm vùng lên, vai bên vai, cánh sát cánh, cương quyết lật độ bạo quyền Việt cộng để cứu nước và xây dựng đất nước

Cuộc đấu tranh lịch sử này sẽ vô cùng gian lao, khó khăn và dai dẳng, nhưng chiến thắng này cũng sẽ vô cùng to lớn. Đây là trận chiến cuối cùng để mãi mãi chấm dứt chiến tranh, chấm dứt khổ đau, chấm dứt bất công trên quê hương yêu dấu

Monday, August 28, 2006

Mo^.t Cuo^.c Hy Sinh



Kính thưa quý vị quan khách
Kính thưa quý bạn

Sự hy sinh của cố chủ tịch sáng lập MT và đảng cách mạng VT cùng với các kháng chiến quân Đông Tiến tính đến nay đã là 19 năm. 19 năm là thời gian đủ dài để làm mờ nhạt mọi thương nhớ, xót thương ngay cả những người ruột thịt trong gia đình.

Thế nhưng, sự hy sinh này đã được các đảng viên VNCTCMĐ luôn luôn chắt chiu trân quý. Có những cơ sở âm thầm đến dịp này thì tụ họp nhau làm giỗ. Nơi thì có mời bạn bè thân hữu. Nơi thì chỉ có anh chị em trong nhà. Năm ngoái, vào mùa này, một chiến hữu lớn tuổi miền Tây bắc Hoa kỳ, tên là Phạm Tuấn khi quét lá rụng sân nhà đã nhớ đến cố chủ tịch Hoàng Cơ Minh và một số chiến hữu vào một ngôi chùa Nhật ở Tokyo quét lá trước khi về VN. Và ông đã phóng bút một bài thơ tứ tuyệt chữ Hán Việt với tên là Kiến lạc diệp tư thùy (nhìn lá rụng nhớ ai)

Bài thơ như thế này:

Thu phong diệp lạc tư hào kiệt
Cổ tư. thiên nhai tảo tán hoa
Quốc nạn vị tiêu anh hùng biệt
Diệp lạc tựa tâm huyết lệ sa

Nghiã là;

Gió thu lá rụng nghĩ đến người hào kiệt
Quét hoa rơi nơi chuà cổ góc trời xa
Nạn nước chưa hết mà anh hùng đã mất
Lá rụng như nước mắt máu rỉ từ tim ra.

Đối với người chưa từng đọc thơ Hán Việt, không hiểu nghĩa và không cảm âm thì không thấy gì. Những người hiểu nghiã cũng chưa chắc đã có rung động. Nhưng đối với những người cùng tần số, nghĩa là những người cùng chung lý tưởng thì bài thơ này thật là thấm tận tâm can. Vì thế cho nên đã có một đảng viên khác giỏi làm thơ, là Nguyễn Minh Lễ, dịch ra tiếng Việt thành hai bài. Một bài là 4 câu, 28 chữ. Và một bài khác là thể lục bát đặc biệt Việt Nam. Cả hai bài đều tuyệt diệu đối với những đảng viên. Mời quý vị nghe một chiến hữu của tôi có mặt nơi đây, là Diệu Thắng ngâm hai bài thơ này.

Thấy lá rụng nhớ ai?

Nhìn lá thu bay chạnh nhớ Người
Sân chùa hào kiệt quét hoa rơi
Chưa tan nạn nước Người ly biệt
Lá rụng như tim rỉ máu tươi

Gió thu bay lá thu hồng
Nho+' người hào kiệt cu+a? Không cuối trời
Bình tâm quét lá đợi thời
Tìm đường về nước cứu người lầm than
Chẳng may gặp cảnh nguy nan
Hy sinh vì nước bỏ thân núi rừng
Lời thề “Giải Phóng” không ngưng
Lá thu như huyết lệ rưng nhớ Người…!

Sự xúc động này đối với những người đã hy sinh nằm xuống, không chỉ ở một người. Một chiến hữu khác là Việt Khanh đã cũng trong dịp đầu thu năm ngoái, khi nhìn thấy lá trở màu vàng đỏ thì đã làm bài Thu cảm vì nghĩ tới cuộc hành quân Đông Tiến. Và nghĩ đến thời gian qua mau khi nhìn lớp con trẻ của những người ra đi đã lớn, để tự hỏi mộ người nằm xuống nơi đâu. Nhưng, không chìm trong nỗi buồn thương, tác giả trước những khó khăn cuả cuộc đấu tranh đã khẳng định quyết tâm đi theo con đường đã chọn, để không thẹn với mình, bất chấp những người thời cơ chao đảo. Xin mời quý vị quan khách nghe chính tác giả chia xẻ tâm tình của mình.

Thu Cảm

Một sáng nhìn sân bỗng ngỡ ngàng
Vàng cây đỏ lối gió thu sang
Xạc xào lá gọi hồn Đông Tiến
Lất phất mưa trời mây xám ngang

Mười tám thu qua trẻ lớn khôn
Mộ người phương đó mất hay còn
Xác thân bồi đất quê hương Mẹ
Chí cả hùng tâm rạng nước non

Thu đến thu đi lá trải đường
Thu về hồn gọi cứu Quê Hương
Người chao đảo mặc người chao đảo
Ta bền lòng không thẹn trước gương

Cành lung linh điểm giọt pha lê
Nắng vàng hanh đón bước anh về
Lá ủ đất giữ gìn mạch sống
Mầm Tự Do sẽ trổ trên Quê.

Có thể có quý vị không hiểu tại sao chúng tôi lại có thể xúc động như thế về một cuộc hy sinh cách đây đã 19 năm. Có thể quý vị không biết là còn có người khác là Trần Bửu Hạnh cách đây hai tuần cũng viết một bài thơ Nhớ cây chanh mà một kháng chiến quân đã trồng bên mộ một người bạn đã hy sinh những ngày đầu kháng chiến

Nhớ Cây Chanh Hôm nay trời trở lạnh Tôi chợt nhớ cây chanh Cô đơn bên bờ suối Cạnh mộ người hùng anh ! Rừng âm u Đông Tiến Mộng giải phóng chưa thành Nay anh đà nằm xuống Tôi tiếp nối theo anh .. .Trong ngoài tuy ngăn cách Tôi vẫn nhớ cây chanh Gương anh hùng Đông Tiến Đã đi vào sử xanh ! Nay có người vứt bỏ Phương tiện xưa bất thành Chạy theo mùi phú quý Không còn nhớ cây chanh ! Trái chanh vắt bỏ vỏ Lá ngắt lìa khỏi cành Thân chanh buồn hiu quạnh Năm tháng trong rừng xanh !

Tôi xin lỗi đã làm qúi vị mất thì giờ nghe thêm bài thơ tâm sự này. Nhưng mà quả tình là không thể ngừng được. Kể ra như thế để nói rằng chính tôi, tôi cũng không hiểu về những rung động tự nhiên trào đến này. Không hiểu là tại sao mà tôi lại có thể xúc động đến mức độ chẩy nước mắt, không phải một lần mà là nhiều lần. Ngay chính mẹ tôi, mất lúc tôi 10 tuổi, đã để lại cho tôi một trống vắng to lớn trong cuộc đời và làm cho tôi thay đổi hẳn để trở thành người như hôm nay. Thì tôi, 19 năm sau, khi tôi đã thành đạt ra trường y khoa và hãnh diện trong lòng là đã làm cho mẹ tôi sung sướng nơi miền vĩnh hằng, tôi cũng không có những xúc động rơi nước mắt khi nghĩ đến mẹ.

Nghĩ lại thì có lẽ mối xúc động của tôi, và của các chiến hữu cùng chung mối xúc động như vậy, không phải vì sự thương tiếc cá nhân, mà có lẽ là sự cám cảnh cho một sự nghiệp dang do+? và con đường mình đang đi đầy khó khăn nghịch cảnh, đầy ngang trái. Đầy nghịch cảnh, đầy ngang trái, thưa quý vị, đúng vậy.

Quý vị hẳn còn nhớ đã có những khẳng định nhắc đi nhắc lại rằng chiến hữu Hoàng Cơ Minh mua nhà ở Tokyo, mua biệt thự ở Florida, ở Thái lan bằng tiền yểm trợ kháng chiến hàng chục triệu đô la.. Các quý vị cũng được nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần kháng chiến ma. Và những câu chuyện về sự độc tài, về sự tàn bạo trong khu chiến chẳng thể khẳng quyết thực hư. Và ngay cả những chi tiết không thể kiểm chứng đã hay đang được gọi là trung thực viết ra về con đường Đông tiến định mệnh.

Với chúng tôi, chúng tôi biết rõ rằng những chiến hữu của chúng tôi đã ra đi chỉ với quyết tâm và tay trắng. Cá nhân tôi, tôi nhớ cái kỷ niệm được chiến hữu Hoàng Cơ Minh đón từ phi trường Dulles về nhà bằng chiếc xe Volkswagen lấm nhiều vết sơn đủ mầu và xe sặc mùi sơn. Ông Minh đã không chọn một nghề bàn giấy hay một nghề nhàn nhã thích hợp có thể kiếm không khó khăn vì khả năng và vì sự quen biết với những người bạn Mỹ có thế giá. Ông đã chọn nghề đi sơn nhà để có thể ngoài những khi nhận thầu sơn nhà kiếm sống, có thể đi đây đó vận động đấu tranh.

Trong lần đó, tôi đến nhà ông thảo luận về những vấn đề quan điểm và đường lối đấu tranh trước khi ông về chiến khu, trong khi gia đình ông đang dọn đồ di chuyển về California. Thi?nh thoảng con trai ông chừng 4, 5 tuổi lại ra hỏi ông bố có mang cái này đi, cái kia đi không. Ông ừ mau chóng và đuổi con vào nhà để tiếp tục thảo luận với tôi. Tôi phục sự cuơng quyết của ông và thấy ông hơn tôi hẳn một bực: tôi cũng có con tuổi đó và cũng quyết tâm đấu tranh mà không dám bỏ đi. Mặc dầu đồng ý với ông về những quan điểm đấu tranh căn bản lấy sức mình làm chính và định nghĩa rõ vai trò thế giới, tôi đã chỉ hưá với ông là sẽ cố làm theo khả năng trên con đường đã chọn. Và tôi đã giữ lời hứa này cho tới bây giờ.

Nhưng mà điều tôi nhớ nhất là phiên họp Tổng vụ hải ngoại có ông tham dự, trước khi ông đi về trong nước. Hầu hết mọi người đều khuyên ông đừng đi, lấy cớ rằng ông là người cao cấp nhất, không nên đi, và giao cho người khác đi. Trong việc này, tôi không nói gì vì không biết rõ tình hình trong khu chiến. Cũng bởi vì tôi nghĩ rằng là người lãnh đạo thì tức là người đi trước, làm nhiều hơn anh em. Ông cương quyết ra đi vì nói việc không thể giao cho người khác được.

Lúc mãn họp từ biệt ông ra về, ông nói chuyện riêng với tôi một lát. Bảo rằng, “Có đi mới biết rằng đường vô cùng nguy hiểm. Ra đến ngoài mới biết mình còn sống.” Thì ra ông đã từng đi về hay ít ra thì cũng đi thăm thú đường đi nước bước. Ông trở ra lần đó là để họp giúp giải quyết một số khó khăn nội bộ do cái hoàn cảnh sống hải ngoại gây ra. Nhưng mà ông cũng không giúp được bao nhiêu. Trước khi tôi về, ông bắt tay nắm chặt và nhìn thẳng vào mắt tôi. Ông nói: “Anh Ninh, chúng mình tóc đã bạc cả rồi. Anh cố gắng đừng để bị lừa.” Tôi nhớ mãi cái nhìn u uẩn này. Đó là lần chót tôi gặp ông.

Tôi không phải chỉ nhớ có mình ông, mà còn nhớ vài người khác nữa, trong chuyến đi hy sinh với ông, dầu tôi chỉ gặp mặt nói chuyện rất ít, hay là ngay cả người chưa tùng gặp mặt.

Đó là Võ Hoàng. Anh nói ít. Nhưng lời thơ anh rực lửa. Tôi phục anh, vì sau khi ở khu chiến ra công tác, và thấy những khó khăn hải ngoại, anh đã trở về khu chiến, bỏ lại gia đình và người vợ trẻ đẹp. Tôi nhớ Phan Minh Mẫn mà tôi chưa từng gặp mặt. Nhưng tôi đã cảm với anh khi được gặp anh qua bài thơ Đường Cách Mạng

“Người cách mạng coi đấu tranh là Đạo
Dân tộc Việt nam là đấng tôn thờ
Tổ quốc Việt Nam là hồn phách thiêng liêng
Mà người cách mạng là tín đồ truyền đạo”

Phan Minh Mẫn đã đi trên đường Đông Tiến và đã mất rồi cũng với những người mà chúng tôi đều nghĩ rằng là anh hùng khác. Chúng ta không ai biết họ đã mất ra sao. Dù mất vì kiệt lực ngồi lại, mất vì bị thương không phương tiện chạy chữa, mất vì lạc nẻo di hành, mất vì tự sát, thì cũng không làm giảm hay mất đi cái bản chất anh hùng trong sự chọn lựa con đưo+`ng vì dân tộc mà ông Hoàng Cơ Minh đã nói:

“Đường chúng ta đi có hai cái đích. Cả hai cùng vinh quang. Một là giải phóng tổ quốc. Hai là được anh dũng hy sinh cho tổ quốc”

Đó là nỗi xúc động của chúng tôi với những người đã ra đi. Những người ở lại cũng làm cho chúng tôi xúc động. Riêng cá nhân tôi, tôi có thể chia xẻ quý vị nghe một chuyện nhỏ. Cách đây vài tháng bà Hoàng Cơ Minh điện thoại cho tôi. Sau vài câu thăm hỏi, với giọng nhỏ nhẹ thường lệ, bà hỏi tôi đại ý, “Anh Ninh, bao giờ thì mình về được Việt Nam?” Và bà nói ngay, “Tôi muốn về Việt Nam khi không còn CS thôi.” Bị hỏi bất chợt tôi không có câu trả lời nào khác hơn là nói, “Thì chị biết đấy, chúng tôi vẫn tiếp tục đi theo con đường anh Minh đã vạch ra.” Rồi câu chuyện tiếp tục, và có một chút tâm sự, một chút nhắn nhủ “anh Minh mang tôi sang đây thì anh Minh và các anh sẽ mang tôi về Việt Nam”. Tôi biết bà gọi cho tôi vì bà biết những khó khăn mà tổ chức chúng tôi đang trải qua. Tôi biết bà nói “anh Minh” vì trong lòng bà, và thực ra là bà đã từng nói với tôi rằng bà không tin ông Minh đã mất. Tôi không muốn nói khác với vị hiền phụ mà tôi kính trọng và thương quý này. Và thực tình thì đối với chúng tôi, hay ít ra là đối với cá nhân tôi, chiến hữu Hoàng Cơ Minh và các chiến hữu tiên phong vẫn ở với chúng tôi, trên con đường mà chúng tôi tiếp tục.

Thưa quý vị và các bạn

Cũng là do cơ duyên mà hôm nay tôi được có dịp chuyện trò với quý vị ở đây, miền thung lũng hoa vàng Bắc California. Lẽ ra thì hôm nay tôi ở Quận Cam, trong buổi tưởng niệm phó đề đốc Hoàng Cơ Minh do hội Hải quân tổ chức. Dự tính cho sự có mặt này của tôi đã được nhìn dưới góc chính trị, cho nó một ý nghĩa chính trị, và vì thế đã có những vận động để hủy bỏ. Thật ra thì khi nghe tin rằng tôi sẽ là một người phát biểu trong buổi tưởng niệm miền Nam California, tôi đã không biết rằng sẽ nói gì trong một bữa ăn. Và những lời này, xin thành thật thưa rằng sáng nay tôi mới thực sự soạn xong, tuy rằng tôi đã biết rằng tôi phải phát biểu trong lễ tưởng niệm của anh em cơ sở miến Bắc Cali này tổ chức, cách đây ba tuần.

Tôi đã soạn trong tinh thần nghĩ rằng quý vị và các bạn tới đây hôm nay là vì truyền thống người Việt nam tôn trọng anh hùng. Mà anh hùng liệt nữ, theo cái nghĩa Việt nam là những người hy sinh mạng sống của mình vì dân tộc đất nước, bất kể thành bại. Cho nên lời xưng dương ca tụng là thừa, là sáo ngữ. Tôi quyết định chia xẻ với quý vị những rung động của chúng tôi trước những tấm gương anh hùng. Những rung động mà như quý vị đã thấy, có vẻ như là không thông thường hợp lý vì thời gian phôi pha. Nhưng mà như quý vị cũng đã thấy đó là vì những khó khăn ngang trái trong câu chuyện của những anh hùng này.

Có thể là có quý vị cho rằng chúng tôi lãng mạn xúc cảm quá và nhiều khổ lụy. Sống với cuộc đời là như thế, như tinh thần của Thiền là "ăn thì có mặt lúc ăn, nghỉ thì có mặt lúc nghỉ”. Mưa thì không thể không ướt lạnh và nắng thì không thể không khô nóng. Nhưng người có phiền muộn hay không vì mưa nắng thì là chuyện khác. Cái triết lý duyên sinh của nhà Phật cũng nói rằng còn duyên thì khổ đến, hết duyên thì khổ đi. Và vì thế chúng tôi hiểu rằng tại sao vua Trần Nhân Tông đã đi tu mà còn ra đánh giặc Lào cứu nước, để sau cùng khi nước yên thì về tu trong một cái am nhỏ trong núi và từ trần bên cạnh một người thị giả, sau khi đã đi thăm một lượt các người thân thuộc nhất của mình.

Trần Xuân Ninh
27-8-2006

www.rprvn.com/audio/060827_mot_cuoc_hy_sinh.mp3

Wednesday, August 23, 2006

Tie^u? Su+? ca'c vi. lanh~ d-ao. cua? MTQGTNGPVN d-a~ hy sinh tre^n bu+o+'c d-u+o+`ng Giai? Pho'ng Vie^.t Nam


Chu? ti.ch Hoa`ng Co+ Minh

1935 Sinh tai. Ha` No^i.

1955 To^'t nghie^.p Khoa' 5 tru+o+`ng Si~ Quan Hai? Qua^n QLVNCH Nha Trang

1955 - 1962 D-a?m nha^.n nhie^u` Tra'ch Vu. tre^n Chie^'n Ha.m va` d-o+n vi. Bo+`

1962 - 1964 Chi? Huy Tru+o+?ng Pha^n D-o^i. 4, Tru.c Lo^i Ha.m

1964 - 1966 Tuy` Vie^n Qua^n Su+. tai. Ha'n Tha`nh / Nam Ha`n

1966 - 1968 Chi? Huy Tru+o+?ng Hai? D-o^i. 1

1969 To^'t Nghie^.p Chi? Huy Tham Mu+u Cao Ca^'p / D-a` La.t

1969 - 1971 Tham mu+u pho' Chie^'n Tranh Chi'nh Tri. Bo^. Tu+ Le^.nh Hai? Qua^n QLVNCH

1971 - 1974 Tu+ Le^.nh Lu+.c Lu+o+.ng Thuy? Bo^. 211

1974 - 1975 Tu+ Le^.nh vu`ng 2 Duye^n Hai? kie^m Tu+ Le^.nh Lu+.c Lu+o+.ng D-a(.c Nhie^.m 21

1975 Ty. na.n tai. Hoa Ky`

1976 - 1978 Sa'ng la^.p Lu+.c Lu+o+.ng Qua^n Nha^n Vie^.t Nam Hai? Ngoai.

1979 Sa'ng la^.p Lu+.c Lu+o+.ng Qua^n Da^n Vie^.t Nam Hai? Ngoai.

1980 Ro+i` Hoa Ky` ve^` khu chie^'n

1980 - 1987 Chu? Ti.ch Ma(.t Tra^.n Quo^'c Gia Tho^'ng Nha^'t Giai? Pho'ng Vie^.t Nam

28/08/1987 Hy sinh tre^n d-u+o+`ng d-a^u' tranh Giai? Pho'ng Vie^.t Nam

Le^ Ho^`ng


Chie^'n hu+u~ Le^ Ho^`ng

1937 Sinh tai. Ha` Tinh~

1955 - 1975 D-a?m Nha^.n ca'c Tra'ch Vu. trong Su+ D-oa`n Du` QLVNCH : Trung D-o^i. Tru+o+?ng Trung D-o^i. Truye^`n Tin, Si~ quan phu. ta' Ban 3 / Tie^u? D-oa`n 3 Du` ; Tie^u? D-oa`n Pho' va` Tie^u? D-oa`n Tru+o+?ng Tie^u? D-oa`n 1 Du` ; Chu+'c vu. sau cu`ng : Trung Ta' Lu+~ D-oa`n Pho' Lu+~ D-oa`n 1 Du`

1975 Ty. na.n tai. Hoa Ky`

1976 - 1978 Ca'n bo^. lanh~ d-ao. Lu+.c Lu+o+.ng Qua^n Nha^n Vie^.t Nam Hai? Ngoai.

1979 Ca'n Bo^. lanh~ d-ao. Lu+.c Lu+o+.ng Qua^n Da^n Vie^.t Nam Hai? Ngoai.

1980 Ro+i` Hoa Ky` ve^` khu chie^'n

1980 - 1984 Chi? huy tru+o+?ng ca'c ca(n cu+' thuo^.c MTQGTNGPVN

1984 - 1985 Tu+ Le^.nh Lu+.c Lu+o+.ng Vo~ Trang Kha'ng Chie^'n

01/05/1985 Hy sinh tre^n d-u+o+`ng d-a^u' tranh Giai? Pho'ng Vie^.t Nam

Vo~ Hoa`ng


Chie^'n hu+u~ Vo~ Hoa`ng

1952 Sinh tai. d-ao? Phu' Quo^'c, ti?nh Kie^n Giang

1974 Gia nha^.p Hai? Qua^n QL Vie^.t Nam Co^.ng Hoa`

1975 - 1976 Tu` kho^? sai "cai? tao."

1978 Vu+o+.t bie^n d-e^'n U'c D-ai. Lo+i.

1979 D-i.nh cu+ tai. Hoa Ky`

1983 Gia nha^.p MTQGTNGPVN tai. California

1984 Ve^` khu chie^'n

1986 To^?ng Thu+ Ky' Ho^i. Va(n Nghe^. Si~ Kha'ng Chie^'n

1984 - 1987 Uy? Vie^n Chi'nh Tri. ca^'p Kha'ng D-oa`n

28/08/1987 Hy sinh tre^n d-u+o+`ng d-a^u' tranh Giai? Pho'ng Vie^.t Nam

Tra^`n Thie^.n Khai?


Chie^'n hu+u~ Tra^`n Thie^.n Khai?

1949 Sinh tai. Phan Rang

1973 To^'t nghie^.p Tru+o+`ng Si~ Quan Hai? Qua^n QLVNCH Nha Trang, Khoa' 24 -
D-e^. Nhi. Song Ngu+ ; Ca^'p ba^.c sau cu`ng : Thie^u' Uy'

1975 Ty. na.n tai. Hoa Ky`

1975 - 1979 To^'t Nghie^.p Ky~ Su+ Hoa' Ho.c - D-ai. Ho.c Rhodes Island

1979 Gia nha^.p MTQGTNGPVN va` ve^` khu chie^'n

1981 - 1985 D-a?m nha^.n ca'c Tra'ch Vu. : Uy? Vie^n Chi'nh Tri. ca^'p
Quye^'t D-oa`n / Kha'ng D-oa`n

1986 - 1987 Uy? Vie^n Chi'nh Tri. Lu+.c Lu+o+.ng Vo~ Trang Kha'ng Chie^'n / MTQGTNGPVN

27/08/1987 Hy sinh tre^n d-u+o+`ng d-a^u' tranh Giai? Pho'ng Vie^.t Nam

Monday, August 21, 2006

Symbolische Politik

von
Hoai Nam Nguyen (Berlin/Magdeburg) und
Gideon Nguyen (Berlin)


August 2006


Man kann es drehen und wenden wie man will, das Projekt für den vietnamesischen "Tag der Flüchtlinge (des Kommunismus)" ist gescheitert. Sie scheitert, weil die Reformpartei (Viet Tan), die hinter dieser Initiative steht, ein undurchsichtiges Spiel treibt. Sie versucht aufgrund des Ereignisses der zerstörten Denkmäler vietnamesischer Flüchtlinge auf Pulau Bidong (Malaysia) und Pulau Galang (Indonesien) die Aufmerksamkeit auf sich zu lenken und initiierte das Projekt mit dem intern fragwürdigen (kurzen) Namen "Tag der Flüchtlinge".

Schnell erwies dieses als Sackgasse, weil Viet Tan bisher weltweit in der vietnamesischen Gesellschaft keinerlei Anklang und Akzeptanz für dieses merkwürdige Projekt findet. Was ist der Sinn dieses Tages? Ein Tag des Gebetes und Andenken an die verstorbenen Flüchtlinge des vietnamesischen Kommunismus? Was ist mit den lebenden Flüchtlingen? Hat Vietnam nicht bedeutungsvollere Gedenktage als diesen nichts aussagenden "Tag der vietnamesischen Flüchtlinge"? Vietnamesen, die Angehörige und Verwandte in dem vietnamesischen Exodus verloren haben, brauchen diesen Tag nicht, sie beten ohnehin für ihre Verwandten in Kirchen, Pagoden und auch zu Hause...
unabhängig von einem "offiziellen" Tag für vietnamesische Flüchtlinge! Lebende Flüchtlinge wollen nicht an einem definierten Tag erinnert werden. Sie wollen lieber dafür kämpfen, dass Vietnamesen nie wieder aus ihrer Heimat flüchten müssen und sehen den eigentlichen Übel im real-existierenden menschenverachtenden Kommunismus in Vietnam.

Was steckt eigentlich dann dahinter? Aus internen Emails der Reformpartei Viet Tan kann man erahnen, dass einige ranghohe Funktionäre im Zentralkomitee (TUD5) die Gelegenheit nutzen wollten, den 30/4 (der Tag als ganz Vietnam unter kommunistischer Herrschaft fiel) umzubenennen oder die Bedeutung zu schwächen. Zumindest wurde der 30/4 geschickt neben andere Tage platziert. Die Absicht dahinter beruht wahrscheinlich in der neuen Ausrichtung der politischen Linie der Partei zu finden.

Die Reformpartei will so schnell wie möglich an den bevorstehen (inszenierten) Parlamentswahlen in Vietnam teilnehmen und braucht zumindest die politische Anerkennung im Inland. Den 30/4 als Tag des Widerstandes (gegen den Kommunismus) würde nicht in ihr politisches Bild passen. Dies ist aber eine Abkehr zu ihrer bisherigen politischen Linie. Interne Mails, Gespräche und Abstimmungsverhalten deuten auf diese Absicht hin.

So startete die Parteiführung die Kampagne im Rahmen eines sogenannten "Referendums" im Übersee. Als sie merkte, die dürftige Zustimmung brachte nicht den erforderlichen Rückhalt, wurde das Projekt über die parteinahe Gruppe "Vi Tu Do" (Für die Freiheit) abgewickelt. Das Referendum wurde weiter forciert und stieß erstmals auf heftigen Widerstand von anderen vietnamesischen Organisationen. Prompt wurde der Begriff "Referendum" (Trung Cau Dan Y) in "Meinungsumfrage" (Trung Cau Y
Kien) uminterpretiert. Das Ergebnis dümpelt nach der offiziellen Verkündung weiterhin in politischer Bedeutungslosigkeit.

Denn was sind schon die über acht Tausend Stimmen, die an dieser "Meinungsumfrage" teilgenommen haben, verglichen mit den über 1,5 Mio. Übersee- und Exilvietnamesen? Und was bedeuten schon die über vier tausend Stimmen für den 14/11? Repräsentativ ist dies auf gar keinen Fall. Daher beschränkt sich das Zentralkomitee letztendlich auf die Formulierung einer "Empfehlung" für diesen Tag. Um einen Gesichtsverlust zu vermeiden, wurden viele Namen genannt, die sich für das Projekt engagiert haben. Was viele Vietnamesen schon erahnen: über 75% der "Engagierten" sind Parteimitglieder von Viet Tan. Wie hilflos, peinlich und naiv muss es sein, wenn Namen in dieser Kampagne genannt werden?

In grandioser Weise wird hier das Scheitern einer symbolischen Politik der Reformpartei Viet Tan dokumentiert. Symbolische Politik ohne Durchschlagskraft. Ohne Richtung. Die Auflistung erinnert an einer Liste von Ahnungslosen in Erfüllung von Befehl „von oben“. Die Teilnehmer wirkten zuweilen wie eine Langstreckencrew im Blindflug auf ein unbekanntes Ziel.


Letztendlich ist das Scheitern der Parteiführung Viet Tans, die Symbolik des 30/4 abzuschwächen, ein Gewinn für die Vietnamesen. Das Zentralkomitee hat die Stärke der Exilvietnamesen unterschätzt. Die Stärke liegt im demokratischen Charakter der vietnamesischen Gesellschaft im Übersee. Sie durchschaute die Absichten des Zentralkomitees V und verweigerte ihre Zustimmung und Kooperation. Die vietnamesische Gesellschaft ist klüger als die politische Führung der Reformpartei Viet Tan.

Friday, August 18, 2006

What Does Today’s Vietnamese Youth Think of Hoang Co Minh?

What Does Today’s Vietnamese Youth Think of Hoang Co Minh?

Lan Hoang Nguyen

On Sunday, August 26, 2001 I, like thousands of other people around the world, attended the memorial service for Admiral Hoang Co Minh. Before I attended the service I invited a few friends, all of college age, to come with me. They refused however, some explaining that they did not know anything about the man and other refusing because they associated him with the National United Front For the Liberation of Vietnam, war, and things that had already passed, having nothing to do with them.

In truth, what they said made sense. The last time I had heard someone speak of Admiral Minh was when I was about five or six years old. Knowing today that he passed away in 1987, the year that I was only three or four years old, I have to agree with my friends; the things Admiral Minh did fall under a time that no longer has anything to do with my generation. Despite all this, I still went to his memorial service because some part of my greatly admired the man and his comrades.

When I entered the hall in San Jose, California where the ceremony was held, I saw a very strange thing; there were numerous people wearing brown shirts. It has been a very long time since I have seen anyone wearing the brown shirt that signifies membership in the National United Front For the Liberation of Vietnam. Seeing the shirt, I slowly saw images of the South Vietnamese flag waving in the air and banners demanding freedom for Vietnam run through my mind. I was reminded of a simpler time from my childhood, a time where life just seemed better.
As the ceremony began I found it very difficult to be emotional. Part of me was even bored, due to the fact that everyone who spoke referred to things and events that I had no knowledge of. All I knew was that I had come to the memorial service because I admired Hoang Co Minh and that I had a certain affection for the brown colored shirt of the United Front. But when it came time for the slideshow portion of the ceremony and I was confronted with the images of Admiral Minh and his comrades I was very touched. And when I heard the song “This Century is Our Century” written by Vo Hoang, I realized why I had such high regard for Admiral Minh and those who wore the brown shirt of the United Front. When I was younger, too young to remember clearly, my parents often took me to protests and I greatly enjoyed the experience.

In those moments that we demanded human rights and democracy for Vietnam, the image of the person on the street wearing the uniform of the United Front was rooted into my mind and my heart.

Uncovering this hidden link to my past, I became very attentive so that I could learn anything and everything about Admiral Minh and a time that I only partly recall. By the end of the service I had come to understand a number of things. I understood that Admiral Minh had been able to escape Vietnam and come to America. But not being able to find happiness with his personal life when the lives of his countrymen were in despair under a communist regime, he returned to Vietnam. There, Admiral Minh founded the National United Front For the Liberation of Vietnam with the hope of ensuring a better life and brighter future for the people of Vietnam. On the 28th of August 1987, Admiral Minh heroically gave his life on a trip returning to Vietnam to further his cause.

As a child my parents often told me stories of the numerous heroes of Vietnam such as Tran Quoc Toan, Nguyen Thai Hoc, Tran Hung Dao, etc. Hearing about their bravery and sacrifices, I was extremely proud to be Vietnamese. I had not realized that even in our times such a hero could be found.

Over twenty years ago Hoang Co Minh started an honorable movement. He wanted to collapse the communist regime in Vietnam through a nationwide revolution and rebuild the country into one based on the ideals of freedom and democracy. Although his methods may not be relevant today, his dream is still as relevant as ever.

In this day and age where technology rules and everything comes so easily to the individual, role models are surprisingly difficult to find. Despite the fact that he has passed away for fourteen years now, Hoang Co Minh was a role model for my parents’ generation, and if only we are willing to learn, he could very well be a role model for my generation.

What could today’s Vietnamese youths learn from Hoang Co Minh?

Being young people, we are always finding our place on this earth, always finding a cause to believe in. Admiral Minh has given us a more than worthy cause. What we young Vietnamese people must learn from Mr. Minh is his love of country and his sense of duty. All Vietnamese people have a responsibility to Vietnam. But we of the younger generation living outside Vietnam, who has had the opportunity to grow up in a free society and fully develop our potential, especially have a responsibility to Vietnam. We must take advantage of the opportunities presented to us and make something of ourselves, so that one day when Vietnam is a democratic society, we can bring the opportunities that we had back to those in Vietnam who were not as fortunate. Only Vietnamese people will look out for the well being of Vietnam. Living in a free society and having the means to do so, if we do not do something about the future of Vietnam then who will?

Over twenty years ago Hoang Co Minh had a vision of a Vietnam that was at peace and that was worthy of the respect of the world. Although Admiral Minh has given his life in pursuit of this vision, his spirit as well as his dream still lives within the generation before me, and it still lives within me. I hope that other Vietnamese youths around the world will also share Admiral Minh’s dream and will act in some way to see that this dream becomes a reality.

In the twentieth century Hoang Co Minh started a movement to bring freedom and democracy to Vietnam. I believe that the young Vietnamese people of today, by our own means, will finish what he began. Although Admiral Minh and his comrades have died paving the way, their dream and spirits are still with us today. Without a doubt, their cause will be taken up by younger generations.

Lan Hoang Nguyen August 28, 2001