

Kính thưa quý vị quan khách
Kính thưa quý bạn
Sự hy sinh của cố chủ tịch sáng lập MT và đảng cách mạng VT cùng với các kháng chiến quân Đông Tiến tính đến nay đã là 19 năm. 19 năm là thời gian đủ dài để làm mờ nhạt mọi thương nhớ, xót thương ngay cả những người ruột thịt trong gia đình.
Thế nhưng, sự hy sinh này đã được các đảng viên VNCTCMĐ luôn luôn chắt chiu trân quý. Có những cơ sở âm thầm đến dịp này thì tụ họp nhau làm giỗ. Nơi thì có mời bạn bè thân hữu. Nơi thì chỉ có anh chị em trong nhà. Năm ngoái, vào mùa này, một chiến hữu lớn tuổi miền Tây bắc Hoa kỳ, tên là Phạm Tuấn khi quét lá rụng sân nhà đã nhớ đến cố chủ tịch Hoàng Cơ Minh và một số chiến hữu vào một ngôi chùa Nhật ở Tokyo quét lá trước khi về VN. Và ông đã phóng bút một bài thơ tứ tuyệt chữ Hán Việt với tên là Kiến lạc diệp tư thùy (nhìn lá rụng nhớ ai)
Bài thơ như thế này:
Thu phong diệp lạc tư hào kiệt
Cổ tư. thiên nhai tảo tán hoa
Quốc nạn vị tiêu anh hùng biệt
Diệp lạc tựa tâm huyết lệ sa
Nghiã là;
Gió thu lá rụng nghĩ đến người hào kiệt
Quét hoa rơi nơi chuà cổ góc trời xa
Nạn nước chưa hết mà anh hùng đã mất
Lá rụng như nước mắt máu rỉ từ tim ra.
Đối với người chưa từng đọc thơ Hán Việt, không hiểu nghĩa và không cảm âm thì không thấy gì. Những người hiểu nghiã cũng chưa chắc đã có rung động. Nhưng đối với những người cùng tần số, nghĩa là những người cùng chung lý tưởng thì bài thơ này thật là thấm tận tâm can. Vì thế cho nên đã có một đảng viên khác giỏi làm thơ, là Nguyễn Minh Lễ, dịch ra tiếng Việt thành hai bài. Một bài là 4 câu, 28 chữ. Và một bài khác là thể lục bát đặc biệt Việt Nam. Cả hai bài đều tuyệt diệu đối với những đảng viên. Mời quý vị nghe một chiến hữu của tôi có mặt nơi đây, là Diệu Thắng ngâm hai bài thơ này.
Thấy lá rụng nhớ ai?
Nhìn lá thu bay chạnh nhớ Người
Sân chùa hào kiệt quét hoa rơi
Chưa tan nạn nước Người ly biệt
Lá rụng như tim rỉ máu tươi
Gió thu bay lá thu hồng
Nho+' người hào kiệt cu+a? Không cuối trời
Bình tâm quét lá đợi thời
Tìm đường về nước cứu người lầm than
Chẳng may gặp cảnh nguy nan
Hy sinh vì nước bỏ thân núi rừng
Lời thề “Giải Phóng” không ngưng
Lá thu như huyết lệ rưng nhớ Người…!
Sự xúc động này đối với những người đã hy sinh nằm xuống, không chỉ ở một người. Một chiến hữu khác là Việt Khanh đã cũng trong dịp đầu thu năm ngoái, khi nhìn thấy lá trở màu vàng đỏ thì đã làm bài Thu cảm vì nghĩ tới cuộc hành quân Đông Tiến. Và nghĩ đến thời gian qua mau khi nhìn lớp con trẻ của những người ra đi đã lớn, để tự hỏi mộ người nằm xuống nơi đâu. Nhưng, không chìm trong nỗi buồn thương, tác giả trước những khó khăn cuả cuộc đấu tranh đã khẳng định quyết tâm đi theo con đường đã chọn, để không thẹn với mình, bất chấp những người thời cơ chao đảo. Xin mời quý vị quan khách nghe chính tác giả chia xẻ tâm tình của mình.
Thu Cảm
Một sáng nhìn sân bỗng ngỡ ngàng
Vàng cây đỏ lối gió thu sang
Xạc xào lá gọi hồn Đông Tiến
Lất phất mưa trời mây xám ngang
Mười tám thu qua trẻ lớn khôn
Mộ người phương đó mất hay còn
Xác thân bồi đất quê hương Mẹ
Chí cả hùng tâm rạng nước non
Thu đến thu đi lá trải đường
Thu về hồn gọi cứu Quê Hương
Người chao đảo mặc người chao đảo
Ta bền lòng không thẹn trước gương
Cành lung linh điểm giọt pha lê
Nắng vàng hanh đón bước anh về
Lá ủ đất giữ gìn mạch sống
Mầm Tự Do sẽ trổ trên Quê.
Có thể có quý vị không hiểu tại sao chúng tôi lại có thể xúc động như thế về một cuộc hy sinh cách đây đã 19 năm. Có thể quý vị không biết là còn có người khác là Trần Bửu Hạnh cách đây hai tuần cũng viết một bài thơ Nhớ cây chanh mà một kháng chiến quân đã trồng bên mộ một người bạn đã hy sinh những ngày đầu kháng chiến
Nhớ Cây Chanh Hôm nay trời trở lạnh Tôi chợt nhớ cây chanh Cô đơn bên bờ suối Cạnh mộ người hùng anh ! Rừng âm u Đông Tiến Mộng giải phóng chưa thành Nay anh đà nằm xuống Tôi tiếp nối theo anh .. .Trong ngoài tuy ngăn cách Tôi vẫn nhớ cây chanh Gương anh hùng Đông Tiến Đã đi vào sử xanh ! Nay có người vứt bỏ Phương tiện xưa bất thành Chạy theo mùi phú quý Không còn nhớ cây chanh ! Trái chanh vắt bỏ vỏ Lá ngắt lìa khỏi cành Thân chanh buồn hiu quạnh Năm tháng trong rừng xanh !
Tôi xin lỗi đã làm qúi vị mất thì giờ nghe thêm bài thơ tâm sự này. Nhưng mà quả tình là không thể ngừng được. Kể ra như thế để nói rằng chính tôi, tôi cũng không hiểu về những rung động tự nhiên trào đến này. Không hiểu là tại sao mà tôi lại có thể xúc động đến mức độ chẩy nước mắt, không phải một lần mà là nhiều lần. Ngay chính mẹ tôi, mất lúc tôi 10 tuổi, đã để lại cho tôi một trống vắng to lớn trong cuộc đời và làm cho tôi thay đổi hẳn để trở thành người như hôm nay. Thì tôi, 19 năm sau, khi tôi đã thành đạt ra trường y khoa và hãnh diện trong lòng là đã làm cho mẹ tôi sung sướng nơi miền vĩnh hằng, tôi cũng không có những xúc động rơi nước mắt khi nghĩ đến mẹ.
Nghĩ lại thì có lẽ mối xúc động của tôi, và của các chiến hữu cùng chung mối xúc động như vậy, không phải vì sự thương tiếc cá nhân, mà có lẽ là sự cám cảnh cho một sự nghiệp dang do+? và con đường mình đang đi đầy khó khăn nghịch cảnh, đầy ngang trái. Đầy nghịch cảnh, đầy ngang trái, thưa quý vị, đúng vậy.
Quý vị hẳn còn nhớ đã có những khẳng định nhắc đi nhắc lại rằng chiến hữu Hoàng Cơ Minh mua nhà ở Tokyo, mua biệt thự ở Florida, ở Thái lan bằng tiền yểm trợ kháng chiến hàng chục triệu đô la.. Các quý vị cũng được nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần kháng chiến ma. Và những câu chuyện về sự độc tài, về sự tàn bạo trong khu chiến chẳng thể khẳng quyết thực hư. Và ngay cả những chi tiết không thể kiểm chứng đã hay đang được gọi là trung thực viết ra về con đường Đông tiến định mệnh.
Với chúng tôi, chúng tôi biết rõ rằng những chiến hữu của chúng tôi đã ra đi chỉ với quyết tâm và tay trắng. Cá nhân tôi, tôi nhớ cái kỷ niệm được chiến hữu Hoàng Cơ Minh đón từ phi trường Dulles về nhà bằng chiếc xe Volkswagen lấm nhiều vết sơn đủ mầu và xe sặc mùi sơn. Ông Minh đã không chọn một nghề bàn giấy hay một nghề nhàn nhã thích hợp có thể kiếm không khó khăn vì khả năng và vì sự quen biết với những người bạn Mỹ có thế giá. Ông đã chọn nghề đi sơn nhà để có thể ngoài những khi nhận thầu sơn nhà kiếm sống, có thể đi đây đó vận động đấu tranh.
Trong lần đó, tôi đến nhà ông thảo luận về những vấn đề quan điểm và đường lối đấu tranh trước khi ông về chiến khu, trong khi gia đình ông đang dọn đồ di chuyển về California. Thi?nh thoảng con trai ông chừng 4, 5 tuổi lại ra hỏi ông bố có mang cái này đi, cái kia đi không. Ông ừ mau chóng và đuổi con vào nhà để tiếp tục thảo luận với tôi. Tôi phục sự cuơng quyết của ông và thấy ông hơn tôi hẳn một bực: tôi cũng có con tuổi đó và cũng quyết tâm đấu tranh mà không dám bỏ đi. Mặc dầu đồng ý với ông về những quan điểm đấu tranh căn bản lấy sức mình làm chính và định nghĩa rõ vai trò thế giới, tôi đã chỉ hưá với ông là sẽ cố làm theo khả năng trên con đường đã chọn. Và tôi đã giữ lời hứa này cho tới bây giờ.
Nhưng mà điều tôi nhớ nhất là phiên họp Tổng vụ hải ngoại có ông tham dự, trước khi ông đi về trong nước. Hầu hết mọi người đều khuyên ông đừng đi, lấy cớ rằng ông là người cao cấp nhất, không nên đi, và giao cho người khác đi. Trong việc này, tôi không nói gì vì không biết rõ tình hình trong khu chiến. Cũng bởi vì tôi nghĩ rằng là người lãnh đạo thì tức là người đi trước, làm nhiều hơn anh em. Ông cương quyết ra đi vì nói việc không thể giao cho người khác được.
Lúc mãn họp từ biệt ông ra về, ông nói chuyện riêng với tôi một lát. Bảo rằng, “Có đi mới biết rằng đường vô cùng nguy hiểm. Ra đến ngoài mới biết mình còn sống.” Thì ra ông đã từng đi về hay ít ra thì cũng đi thăm thú đường đi nước bước. Ông trở ra lần đó là để họp giúp giải quyết một số khó khăn nội bộ do cái hoàn cảnh sống hải ngoại gây ra. Nhưng mà ông cũng không giúp được bao nhiêu. Trước khi tôi về, ông bắt tay nắm chặt và nhìn thẳng vào mắt tôi. Ông nói: “Anh Ninh, chúng mình tóc đã bạc cả rồi. Anh cố gắng đừng để bị lừa.” Tôi nhớ mãi cái nhìn u uẩn này. Đó là lần chót tôi gặp ông.
Tôi không phải chỉ nhớ có mình ông, mà còn nhớ vài người khác nữa, trong chuyến đi hy sinh với ông, dầu tôi chỉ gặp mặt nói chuyện rất ít, hay là ngay cả người chưa tùng gặp mặt.
Đó là Võ Hoàng. Anh nói ít. Nhưng lời thơ anh rực lửa. Tôi phục anh, vì sau khi ở khu chiến ra công tác, và thấy những khó khăn hải ngoại, anh đã trở về khu chiến, bỏ lại gia đình và người vợ trẻ đẹp. Tôi nhớ Phan Minh Mẫn mà tôi chưa từng gặp mặt. Nhưng tôi đã cảm với anh khi được gặp anh qua bài thơ Đường Cách Mạng
“Người cách mạng coi đấu tranh là Đạo
Dân tộc Việt nam là đấng tôn thờ
Tổ quốc Việt Nam là hồn phách thiêng liêng
Mà người cách mạng là tín đồ truyền đạo”
Phan Minh Mẫn đã đi trên đường Đông Tiến và đã mất rồi cũng với những người mà chúng tôi đều nghĩ rằng là anh hùng khác. Chúng ta không ai biết họ đã mất ra sao. Dù mất vì kiệt lực ngồi lại, mất vì bị thương không phương tiện chạy chữa, mất vì lạc nẻo di hành, mất vì tự sát, thì cũng không làm giảm hay mất đi cái bản chất anh hùng trong sự chọn lựa con đưo+`ng vì dân tộc mà ông Hoàng Cơ Minh đã nói:
“Đường chúng ta đi có hai cái đích. Cả hai cùng vinh quang. Một là giải phóng tổ quốc. Hai là được anh dũng hy sinh cho tổ quốc”
Đó là nỗi xúc động của chúng tôi với những người đã ra đi. Những người ở lại cũng làm cho chúng tôi xúc động. Riêng cá nhân tôi, tôi có thể chia xẻ quý vị nghe một chuyện nhỏ. Cách đây vài tháng bà Hoàng Cơ Minh điện thoại cho tôi. Sau vài câu thăm hỏi, với giọng nhỏ nhẹ thường lệ, bà hỏi tôi đại ý, “Anh Ninh, bao giờ thì mình về được Việt Nam?” Và bà nói ngay, “Tôi muốn về Việt Nam khi không còn CS thôi.” Bị hỏi bất chợt tôi không có câu trả lời nào khác hơn là nói, “Thì chị biết đấy, chúng tôi vẫn tiếp tục đi theo con đường anh Minh đã vạch ra.” Rồi câu chuyện tiếp tục, và có một chút tâm sự, một chút nhắn nhủ “anh Minh mang tôi sang đây thì anh Minh và các anh sẽ mang tôi về Việt Nam”. Tôi biết bà gọi cho tôi vì bà biết những khó khăn mà tổ chức chúng tôi đang trải qua. Tôi biết bà nói “anh Minh” vì trong lòng bà, và thực ra là bà đã từng nói với tôi rằng bà không tin ông Minh đã mất. Tôi không muốn nói khác với vị hiền phụ mà tôi kính trọng và thương quý này. Và thực tình thì đối với chúng tôi, hay ít ra là đối với cá nhân tôi, chiến hữu Hoàng Cơ Minh và các chiến hữu tiên phong vẫn ở với chúng tôi, trên con đường mà chúng tôi tiếp tục.
Thưa quý vị và các bạn
Cũng là do cơ duyên mà hôm nay tôi được có dịp chuyện trò với quý vị ở đây, miền thung lũng hoa vàng Bắc California. Lẽ ra thì hôm nay tôi ở Quận Cam, trong buổi tưởng niệm phó đề đốc Hoàng Cơ Minh do hội Hải quân tổ chức. Dự tính cho sự có mặt này của tôi đã được nhìn dưới góc chính trị, cho nó một ý nghĩa chính trị, và vì thế đã có những vận động để hủy bỏ. Thật ra thì khi nghe tin rằng tôi sẽ là một người phát biểu trong buổi tưởng niệm miền Nam California, tôi đã không biết rằng sẽ nói gì trong một bữa ăn. Và những lời này, xin thành thật thưa rằng sáng nay tôi mới thực sự soạn xong, tuy rằng tôi đã biết rằng tôi phải phát biểu trong lễ tưởng niệm của anh em cơ sở miến Bắc Cali này tổ chức, cách đây ba tuần.
Tôi đã soạn trong tinh thần nghĩ rằng quý vị và các bạn tới đây hôm nay là vì truyền thống người Việt nam tôn trọng anh hùng. Mà anh hùng liệt nữ, theo cái nghĩa Việt nam là những người hy sinh mạng sống của mình vì dân tộc đất nước, bất kể thành bại. Cho nên lời xưng dương ca tụng là thừa, là sáo ngữ. Tôi quyết định chia xẻ với quý vị những rung động của chúng tôi trước những tấm gương anh hùng. Những rung động mà như quý vị đã thấy, có vẻ như là không thông thường hợp lý vì thời gian phôi pha. Nhưng mà như quý vị cũng đã thấy đó là vì những khó khăn ngang trái trong câu chuyện của những anh hùng này.
Có thể là có quý vị cho rằng chúng tôi lãng mạn xúc cảm quá và nhiều khổ lụy. Sống với cuộc đời là như thế, như tinh thần của Thiền là "ăn thì có mặt lúc ăn, nghỉ thì có mặt lúc nghỉ”. Mưa thì không thể không ướt lạnh và nắng thì không thể không khô nóng. Nhưng người có phiền muộn hay không vì mưa nắng thì là chuyện khác. Cái triết lý duyên sinh của nhà Phật cũng nói rằng còn duyên thì khổ đến, hết duyên thì khổ đi. Và vì thế chúng tôi hiểu rằng tại sao vua Trần Nhân Tông đã đi tu mà còn ra đánh giặc Lào cứu nước, để sau cùng khi nước yên thì về tu trong một cái am nhỏ trong núi và từ trần bên cạnh một người thị giả, sau khi đã đi thăm một lượt các người thân thuộc nhất của mình.
Trần Xuân Ninh
27-8-2006
www.rprvn.com/audio/060827_mot_cuoc_hy_sinh.mp3